Showing posts with label Trên đường. Show all posts
Showing posts with label Trên đường. Show all posts

January 19, 2015

Koh Kong, 1/1/2015


Điểm tập trung là ở Phan Văn Hớn. Tôi đọc địa chỉ và nhảy lên xe ôm. Ông xe ôm gật đầu lia lịa, phóng đi luôn, được một lát phanh kít xe lại ngoắc người đi đường: “Cậu, cậu, đường Phan Hảo Hớn ở đâu nhỉ?”. Thế là tôi đến chỗ hẹn chậm mất 1 tiếng đồng hồ.

Đến nơi tôi chỉ kịp nhảy lên xe và cả đoàn lên đường. Tôi ngồi sau chiếc Exiter của Thiên Thanh. Tên là Thiên Thanh nhưng mà tôi nhìn chả thấy tí “thanh” nào, người to đùng ngồi gần hết yên xe.

Thiên Thanh vuốt vuốt cái xe “Em cưng nó lắm”. Nói rồi, nó lách lách qua mấy cái xe rồi bỗng tít vụt lên 90km/h, phi như bay trên đường, 10 phút sau hạ tốc độ, khà một câu khoan khoái “phóng nhanh thật là đã!”.

Trong đoàn có một chiếc 67. Thắng Cò người lêu đêu, khẳng khiu đúng như cái cổ cò, “Xe tôi yếu lắm, có 50 phân khối thôi, toàn đi cuối đoàn không à”. Nhưng tôi chả thấy nó yếu tí nào, chấp hết mọi người chạy nhanh chạy chậm, lên dốc hay xuống đèo, nó vẫn phạch phạch bám sát ngay đuôi đoàn.

Cái xe bé tí, mà Thắng Cò chất lên đủ thứ lỉnh kỉnh, lều bạt, giáp tay giáp chân, thêm cả một cô vợ xinh xinh nữa. Hai vợ chồng, quần áo, đồ đạc trên xe xanh đỏ tím vàng như một gánh xiếc, từ xa đã không lẫn được vào đâu trên đường. Nhìn hai vợ chồng lắc lư, phăm phăm đuổi theo đoàn, tôi thấy giống hệt như phim Ai xuôi vạn lý, có chiếc 67 vượt đèo Hải Vân theo tàu Thống Nhất đi ra Bắc.

Đêm hôm đó chúng tôi dựng lều nghỉ tại Tràm Chim, Đồng Tháp.


Tôi chưa bao giờ đi cùng với đoàn nào mà lắm “đồ chơi” như đoàn này. Nào võng, nào lều, nào bếp, nào nồi, nào dao, nào đèn, nào quạt, nào bơm rồi thậm chí cả cưa. Trong nháy mắt võng đã mắc, lều đã dựng. Cả bọn ra ngoài ngồi thi gan với muỗi, nấu mì chờ năm mới. Năm mới vừa đến là cả bọn chui vào lều ngủ.

Ngủ chưa kịp say thì công an mò tới, xe ầm ầm, đèn pha rọi thẳng vào lều, “Ở đâu đến đây, tất cả ra ngoài”.

Lồm cồm bò ra. Ông trưởng đoàn Saba vừa thò mặt đã thấy tay công an nói “người quen” rồi tất cả lại phóng luôn đi mất, chẳng giấy tờ gì.

Chợp mắt cái nữa lại một xe phóng tới, tần ngần đứng cạnh mấy căn lều. Hùng Bộ đội một mình ngủ một võng thì thào “nằm im, nằm im, nó không biết có em nằm đây”.

“Khách” cứ viếng thăm như thế cả đêm cho đến 5h sáng, cả bọn lục tục dậy, lạnh run người. Ở ngoài Bắc, tôi cứ nghĩ miền Nam lúc nào cũng ấm, ai dè ngủ đêm trong lều lạnh gần chết.

Ngày 1/1/2015, chúng tôi qua phà Tân Châu, qua những ngôi làng Hồi giáo của người Chăm, chạy dọc kênh Vĩnh Tế về Hà Tiên. Đây là lần đầu tiên tôi đến kênh Vĩnh Tế mà không ghé qua chào Thoại Ngọc Hầu, người đào kênh Vĩnh Tế.

Con kênh chiến lược một thời thẳng tắp gần 90km, đào bằng sức người hết 5 năm vào tay bọn này chỉ mất hơn 2 tiếng là đi hết. Cả bọn chạy thẳng ra cửa khẩu Xà Xía sang Campuchia.


Campuchia không phải là nước tham nhũng đứng đầu nhưng hải quan Cam thì ăn tiền trắng trợn số 1. Không nhét 1-2$ vào hộ chiếu thì cứ đứng đó, đừng hòng thông quan.

Đặt chân ra “nước ngoài” đã 2h chiều. Trong lúc cả bọn vào quán ăn trưa thì ông Saba vật con Minsk ra chỉnh lại côn giữa trời nắng, “bọn mày cứ ăn đi, xe thế này tao nuốt không vô”.

Vật lên vật xuống một lúc, Thắng cò nhảy vào, “Để Cò, Cò ngồi nghĩ từ nãy Cò hiểu rồi”.

Hùng bộ đội rung đùi ngồi trên con cào cào của hắn, “các ông cứ làm bài của các ông đi, khi nào hết thì đến bài của tôi”.

Hùng bộ đội đi một mình một xe, nhất quyết không chở ai, kể cả vợ. Mấy lần vợ đòi đi theo không chối được, hắn cứ nhè ổ gà mà phi, vài chuyến là vợ hết đòi. Làm về kiến trúc nhưng hắn lại mê động cơ, suốt ngày chỉ thấy kể về chiến tích “dọn máy” xe vụn đi được Tây Bắc. Hắn thân thiện với tất cả mọi người, ai cũng nói chuyện rất nhanh được, thỉnh thoảng lại cất giọng hát. Tôi nghe giọng hắn tròn vành, rõ âm, kỹ thuật rất bài bản, hóa ra hắn có chân trong các ca đoàn Nhà thờ, lại còn đang học làm ca trưởng, thảo nào.

Cả bọn ăn xong rồi mà Saba với Thắng Cò vẫn đang nhịn đói đánh vật với con Minsk, mồ hôi nhễ nhại, chân tay dầu máy đen xì.

“Các ông xong chưa, đến bài của tôi”, đến lượt Hùng bộ đội, “tôi có 3 bài, đảm bảo chạy”. “Để Cò, Cò vừa ăn Cò thông minh lên rồi”,... Các loại “bài” được thi triển nhưng 6h chiều vẫn phải lắp xe vào chạy tạm vì còn gần 300km nữa để sáng mai kịp xuống tàu ra đảo sớm.


Hoàng hôn đỏ rực trên biển ven đường đi. Từ lúc sang Cam, tôi chuyển sang chở Mai Thơ, tránh cái thảm cảnh tranh nhau cái yên với Thiên Thanh mập.

Tắt nắng, trời cành lúc càng lạnh, rét run người. Cả bọn có bao nhiêu áo mang ra mặc hết, mặc thêm cả áo mưa. Trăng 11 mờ mờ, không đủ nhìn rõ, chỉ đủ thấy đường đi cứ hun hút, hun hút. Mắt ông Saba như mắt diều hâu. Xe Minsk đèn tối như con đom đóm mà ông ấy cứ một mình lao vun vút qua đèo.

Thỉnh thoảng Hùng bộ đội lại phóng vọt lên trước một đoạn xa rồi dừng lại, ngồi ngủ gà gật bên ven đường, nhìn từ xa như một thằng ăn cướp đang rình. Tôi và Mai Thơ thi nhau hát toáng lên trên đường cho đỡ lạnh và đỡ buồn ngủ.

Cứ thế 3h sáng cả bọn đến Koh Kong. Chả lều bạt gì, cả lũ trải áo mưa xuống nền, nguyên xi quần áo nằm vật ra ngủ. Hết một ngày đầu năm.



Hôm sau, sau 3 tiếng ngồi tàu, bọn tôi đã ra đến đảo. Nhìn cái tàu thả neo xuống nước trong vắt bên bãi biển cả lũ tỉnh hẳn người sau 2 ngày gần 700km không tắm rửa.

Trên đảo cũng gần như thần tiên. Đảo vắng, không có người lạ. Tên thì vác kayac chèo quanh vịnh, tên vác lao đi xiên cá. Mai Thơ ôm chặt bộ đồ lặn, chân nhái bơi cả ngày. Ra thuyền chài 5$ mua được một đống mực, cá tươi. Tối đốt lửa uống bia cả đêm. Sáng chui vào rừng, ăn thịt thú rừng ở lán thổ dân, leo lên đầu thác cạn.





Một ngày rưỡi trên đảo nạp đủ năng lượng và hứng khởi cho cả bọn chúng tôi, đủ cho chặng đường về với hơn 200km trên đất Campuchia kéo chiếc xe Minsk hỏng với đêm nằm lạnh buốt trong lều cạnh vườn người Khmer và 350km tan đàn xẻ nghé từ Hà Tiên về Sài Gòn.



April 06, 2010

Đi tìm Trường ca sông Lô

Sông Lô, sóng ngàn Việt Bắc bãi dài ngô lau núi rừng âm u
Thu ru bến sóng vàng từng nhà mờ biếc chìm một màu khói thu
Sông Lô, sóng ngàn kháng chiến cháy bờ lau thưa đã tàn thôn trang
Ai qua bến nắng hồng lặng nhìn dòng nước sông Lô xưa
Tôi nhìn vào bản đồ, sông Lô là một đường xanh thẫm chảy vào Việt Nam ở cửa khẩu Thanh Thủy, chạy dọc theo quốc lộ số 2 từ Hà Giang xuống Tuyên Quang, thành ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, và cuối cùng đổ vào sông Hồng gần cầu Việt Trì.
 
Chuyến này tôi sẽ lên Hà Giang, đến Thanh Thủy, nơi bắt nguồn con sông Lô ở đất Việt. Từ đó tôi sẽ xuôi theo dòng về tận cầu Việt Trì, ngã 3 sông. Nghe Trường ca Sông Lô đã nhiều, giờ tôi muốn được tận mắt nhìn sông Lô, tôi muốn bánh xe của mình lăn dọc từ đầu đến tận cuối của dòng sông Lô.

Hà Nội bây giờ mở rộng, chúng tôi mất cả nửa ngày đường mới tới được cầu Trung Hà, cửa ngõ lên phía bắc thủ đô. Qua cầu Trung Hà, chúng tôi tiến vào vùng trung du. Đường đi uốn lượn lên xuống hình sin làm tôi nhớ tới câu thơ:
Bên tả sông Hồng
Bên hữu sông Lô
Đồi bát úp nhấp nhô
Nên gọi là đất giữa... (1)

Cái tỉnh Phú Thọ này có 3 con sông thì cả 3 đều vào trong một câu hát: “Em ở sông Hồng, sông Lô hay sông Chảy...” (2). Ở thị trấn Đoan Hùng, nơi sông Lô giao sông Chảy, ngay chính giữa ngã 3 sông đó, nơi sách lịch sử ghi xảy ra trận sông Lô, nguồn cảm hứng của Trường ca sông Lô, có một cái tượng đài Chiến thắng sông Lô.



Lúc đó là 4h chiều, chúng tôi ghé tượng đài, tôi bắt đầu nhìn thấy sông Lô. Tượng đài nằm trên đồi, vắng hoe. Nhà trưng bày nằm trong khuôn viên cũng vắng hoe nốt, vắng cả hiện vật lẫn người. Tôi đứng ở chân tượng đài nhìn xuống ngã 3 sông. Mùa này nước cạn, sông Chảy như một con suối nhỏ lặng lẽ chảy vào sông Lô. Mặt sông Lô thưa thớt, vài con tàu khai thác cát. Tiếng máy tàu lạch phạch vẳng lên đồi.

Tôi đã từng qua sông Bạch Đằng, con sông rộng mênh mông và hùng vĩ như thế mới có được những trận Bạch Đằng lịch sử. Không hiểu ngày xưa người ta đánh nhau như thế nào với con sông Lô đậu vài cái tàu đã chật như dòng sông trước mắt tôi, để mà có được trận sông Lô trên bài hát oai hùng “reo mừng vui trên sóng nước biếc, trôi đầy sông bao đám xác thù”?

Người ta bảo Văn Cao không được tận mắt chứng kiến trận đánh, ông đến sông Lô khi đám khói chiến trận đã tàn. Cái này thì tôi hiểu. Khi còn chưa giải phóng Hà Nội, trí tưởng tượng của người nghệ sĩ đã tưởng tượng ra “trùng trùng quân đi như sóng, lớp lớp đoàn quân tiến về”, thì một trận sông Lô có sá gì.

Từ Đoan Hùng đến thị xã Hà Giang còn gần 200 cây số nữa. Chúng tôi cố gắng đến được Hà Giang tối nay để sáng mai lên cửa khẩu Thanh Thủy. Qua Tuyên Quang, kể từ đây, đường của chúng tôi đi chạy dọc theo dòng sông Lô. Mùa đông, đường núi, trời tối xuống rất nhanh. Chúng tôi cắm cúi phi, dù không nhìn thấy gì nhưng tôi biết dòng sông Lô vẫn đang chảy bên cạnh chúng tôi, ngay phía dưới vách núi kia.

Bỗng “bụp” 1 tiếng, xe lảo đảo, nổ lốp. Chúng tôi dừng xe lại, phía trước tối om, phía sau tối om, một tiếng dế kêu cũng không có. Cặm cụi dắt bộ một hồi, chúng tôi nhìn thấy nhà Ủy ban xã vẫn còn sáng đèn, liền hò nhau đẩy xe vào với ý định xin tá túc lại đây đêm nay. Hai công chức còn khá trẻ chạy ra. Nhìn thấy cái lốp xe xẹp lép, một anh nhanh nhẹn nhiệt tình: “Để tôi gọi thợ”. Anh thứ hai, phó bí thư xã, mời chúng tôi vào phòng uống chén nước.

Rót một chén nước chè, anh phó bí thư quay sang tôi: “Anh biết bài Sông Lô chiều cuối năm chứ? Sông Lô chỉ hiền hòa lúc chiều cuối năm thôi. Ngày xưa, có hôm đi ngủ trời mưa lâm thâm, 3h sáng dậy thò chân tõm xuống nước. Bây giờ nhiều cầu rồi, trước toàn phải đi đò ngang, nhiều người đi đò trả bằng thóc, cuối năm lại mang thóc ra trả  tiền đò cả năm. Chỉ cách đây vài năm thôi, giờ này các bến đò vẫn còn tấp nập lắm, người ta chở cam đi bán.”

Cam sành Hà Giang cũng có tiếng, cũng đã thành thương hiệu. Hà Nội vẫn thường hỏi nhau cách phân biệt cam Hà Giang và cam Trung Quốc. Nhưng mất mấy năm cam Hà Giang không bán được vì hình như người ta không phân biệt nổi cam Hà Giang với cam Trung Quốc cả về hình thức lẫn mức độ chất bảo quản. Hà Giang đang đặt chiến lược khôi phục lại uy tín cho cây cam. Tôi nghe quảng cáo tỉnh sẽ làm một cốc nước cam sành to nhất Việt Nam để quảng bá cho cam Hà Giang.

Anh chàng sửa xe thò cổ vào: “Xe anh xong rồi”.

Chúng tôi lại lên đường. Đường đi vẫn tối om, chỉ một vài lán bán cam lác đác bắt gặp ven đường là còn có ánh đèn. Tối đó chúng tôi nghỉ lại khu suối nước khoáng Thanh Hà, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.

Sáng hôm sau, chúng tôi quyết định thay lốp. Trong lúc chờ chị vợ anh chàng sửa xe phải đi vào tận trong làng cách gần 20 cây số để lấy được chiếc lốp vừa cỡ xe, tôi ra ngồi uống trà. Hà Giang có trà Shan tuyết rất ngon. Cây chè Shan tuyết toàn cổ thụ, sống trên núi cao, phơi sương bao năm, khi sao ra cánh trà bàng bạc như tuyết phủ, có lẽ vì thế nên người ta gọi là trà tuyết. Trong bài “tỉnh ca” của Hà Giang có câu “Đây chè quê hương vui những ai hẹn hò” chính là trà Shan tuyết này. Huyện Vị Xuyên tôi đang ngồi là một trong những nơi trồng chè Shan tuyết tốt nhất Hà Giang. Tôi liền hỏi một bác lớn tuổi đang pha nước:
- Trà tuyết đây hả bác?
- Không, trà Thái Nguyên thôi
- Trà tuyết hả, đợi tí - Anh chàng sửa xe xen vào rồi chạy vào nhà, trở ra với túm trà đưa tôi.

Tôi đổ ấm trà cũ đi, tráng ấm chén thật cẩn thận, dốc những cánh trà pha màu bạc vào trong ấm, rót một tuần trà ra những chiếc cốc thủy tinh. Bác già nhìn chén trà nước xanh ngăn ngắt gật gù: “Trà tốt, nước tốt. Ở chân núi sát sông Lô bên kia, có mạch nước ngầm, pha trà ngon lắm, cả vùng này đều ra đấy lấy về”.

Tôi được nghe kể câu chuyện, một người Hà Giang mang chè tuyết tặng bạn xách theo cả nước ở vùng cao mang xuống tặng kèm. Họ bảo thành phố nước máy có clo, pha vào hỏng hết vị trà. Có khác gì cụ Sáu xin nước giếng chùa trong Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân. Có phải vì thế không mà trà tuyết tôi mua ở Hà Nội có đắt mấy pha nước vẫn đỏ quạch chứ không xanh ngắt như chén trà ở một quán sửa xe bình thường ven đường sông Lô huyện Vị Xuyên này.

Thay lốp xong, chúng tôi lại tiếp tục lên đường, từ đây đến Hà Giang cũng không còn xa nữa. Bây giờ trời sáng, tôi nhìn rõ con sông Lô chảy ngược ngay bên đường. Sông Lô mùa này không phải mùa nước, lòng sông có đoạn cạn trơ đáy cảm giác có thể lội bộ được qua, đúng như câu ca dao kháng chiến treo ở Tượng đài hôm qua:
Việt Bắc có con sông Lô
Mùa mưa ngập bến, mùa khô cạn dòng

Vô số tàu cát đậu san sát chạy dọc lòng sông. Suốt từ lúc gặp sông Lô đến giờ, chỗ nào nhìn thấy sông, chỗ đó có tàu khai thác cát, thi nhau băm vằm sông Lô. Duyệt qua “hạm đội” tàu cát đó, chúng tôi tới Hà Giang, chạy theo dòng sông đi cửa khẩu Thanh Thủy.

Cửa khẩu Thanh Thủy, nơi bắt đầu sông Lô của Việt Nam. Hiệp định biên giới với Trung Quốc đã hoàn tất, Việt Nam và Trung Quốc chia đôi con sông Lô bằng cột mốc số 261. Ở đầu sông Lô, nhìn dòng nước lơ thơ chảy vào lãnh thổ Việt Nam, tôi buột miệng: “Nước cạn quá nhỉ!”. Anh biên phòng cười: “Mùa này nước cạn, nhưng ở bên kia, Trung Quốc xây thủy điện rồi, mùa mưa nước cũng chẳng lớn đâu”. Mùa mưa nước cũng không lớn, vậy là câu ca dao kia không bao giờ còn “mùa mưa ngập bến” nữa.

Đã lên đến đầu sông Lô, chúng tôi xuôi dòng trở về, hết Hà Giang, xuống Tuyên Quang. Chúng tôi ăn trưa ở đây. Dân câu cá nói sông Lô có nhiều cá ngon, nhất là cá chiên. Cá chiên thuộc họ cá da trơn, dữ, to, ít xương, thịt rất chắc. Dân ở đây nói sông Lô đã từng bắt được những con cá chiên nặng tới năm chục cân.

Dưới chân cầu Nông Tiến sừng sững giữa thị xã Tuyên Quang, nhà hàng nổi san sát bờ sông, chúng tôi ghé vào một quán gọi cá chiên. Bàn bên một gia đình cũng đang ăn cá chiên. Ông bố phương phi cao giọng giữa mâm: “Tranh thủ mà ăn đi, sắp chẳng còn cá để ăn nữa đâu. Sông Lô thì toàn tàu cát, thêm cái thủy điện Na Hang trên sông Gâm nữa, chẳng còn cá mà ăn nữa đâu”.

Nhìn đoàn thuyền bên bờ sông bên kia, tôi hỏi chị chủ quán: “Kia là thuyền chài hả chị?”
- “Không, nhà người ta đấy, dân lao động không có tiền làm nhà nên kéo nhau xuống sống ở sông. Cá to bây giờ toàn đưa từ sông Gâm về, sông Lô chỉ còn mấy người đánh “kích” lẻ tẻ thôi”.

Tôi thò đầu hỏi vọng một anh chàng đang thò 2 chiếc kích điện dưới lòng sông lừ lừ trôi thuyền đến: “Cá gì thế anh?”
- “Được mấy con trôi, con chày”

Làm gì còn “ta vui khoang cá đầy, tay ta tay dân chài xuôi ngược dòng sông Lô” của Văn Cao.

Ngồi bên nhà nổi, tôi nhìn từng đàn vỏ chai rượu những quán nhậu đầu nguồn thả xuống đang lờ lững trôi về xuôi mà nghĩ, chỗ này đã từng “trôi đầy sông bao đám xác thù”.

Tôi theo dòng Lô đi qua bao tỉnh, nhưng chẳng tỉnh nào có một con đường gợi nhớ Văn Cao. Nếu là tôi, tôi sẽ thay ngay con đường Chiến thắng sông Lô nằm bên dòng sông Lô của tỉnh Tuyên Quang này bằng đường Trường ca sông Lô, oai hùng hơn nhiều.

Có lần, tôi hỏi bạn tôi, một người đã từng mòn chân Âu Á, rằng hình ảnh nào hiện lên khi nhắc tới sông Lô. Bạn tôi trả lời: “Nói thật nhé, tớ chẳng biết gì về sông Lô, chỉ biết có một bài Trường ca sông Lô và một câu thơ: Nắng chói sông Lô hò ô tiếng hát, Chuyến phà rào rạt bến nước Bình Ca”.

Hôm nay, khi tôi đến, nắng vẫn chói chang, nhưng bến Bình Ca giờ đã thành cầu, bến nước không còn, chân cầu là khu công nghiệp cảng An Hòa, thành phố Tuyên Quang. Đường vắng tanh, và tất nhiên là không có ai hò ô tiếng hát. Đứng trên cầu nhìn xuống, sông Lô lặng lẽ trôi giữa 2 bờ vắng lặng một bên bãi cỏ xanh rì, một bên nhà xưởng thưa thớt.



Tôi đâm vào con đường đầy cát tả ngạn sông Lô, nơi đây là địa phận huyện Sông Lô, một huyện mới thành lập của tỉnh Vĩnh Phúc. Không biết có phải họ tự hào về dòng sông Lô hay chỉ đơn giản huyện này nằm bên bờ sông Lô mà lấy tên như thế. Huyện thành lập mới khoảng 1 năm, cơ sở vật chất chưa có gì, khắp nơi đang rộn ràng xây dựng. Vậy là hơn 60 năm kể từ câu hát “chí kiến thiết, bên sông Lô đắp nhà”, bên sông Lô cũng đã đắp nhà.

Bác thợ xây đang tu bổ chùa Kim Tôn cạnh dòng sông ngừng tay hỏi tôi: “Bài Trường ca sông Lô đó, giờ còn nổi tiếng không anh nhỉ?”.
Còn, còn chứ, còn nổi tiếng lắm chứ, chẳng phải tôi vì bài hát đó mà đang đi dọc dòng sông đây hay sao?

Trời đã ngả về chiều, tôi đến bến phà Then. Bến phà lặng lẽ vài cái xe máy dựng trước quán cóc trên dốc xuống phà. Em gái bên cạnh rút điện thoại gọi người yêu: “Anh chuẩn bị đón em nhé, em đang ở bến Then”. Bến Then, tôi lẩm nhẩm: “Vui hát ca hòa vui hát ca hòa dân buông lưới, Phan Lương vui bóng thuyền, lều dựng lên ven sông, bóng người sầm uất bến Then”.

Cầu Việt Trì kia rồi. Tôi chui dưới chân cầu rẽ đi Bạch Hạc, bổ ra đê, lần mò tới ngã 3 sông, nơi sông Lô “xuôi quanh co về”, đổ vào sông Hồng “hòa mạch cùng với xuôi”. Dòng sông Lô đến đây là hết.

Tôi đã đi đến cuối dòng sông, một dòng sông không như tôi đã tưởng tượng, dễ dàng làm thất vọng những người từng nghe bài hát muốn đi tìm một dòng sông “mênh mông như bát ngát hát” với “bao rừng thu như bát ngát cười” như tôi. Sông Lô của Việt Nam chỉ là một dòng sông nhỏ. Nhưng Sông Lô của Văn Cao thì cuồn cuộn chảy hùng vĩ như đoàn quân thời chinh chiến đã từng ca: “Đây Volga, đây Dương Tử, đây sông Lô...”. Người ta sẽ còn nhắc đến Sông Lô vì tài năng của Văn Cao chứ không phải vì cái gì khác. Và tôi không phải là người duy nhất sẽ vì bài hát mà đi dọc dòng sông, đi để được qua bến nắng hồng lặng nhìn dòng nước sông Lô xưa. Đứng trước điểm tận cùng của dòng Lô, tôi thầm cất cao lên tiếng hát:
Dòng sông Lô... ô... trôi...
Dòng sông Lô...ô... trôi...


--------------------------------
1: Quê tôi - thơ Đỗ Minh Chi
2: Lời bài hát Nổi trống lên rừng núi ơi - Hoàng Vân
Các đoạn in nghiêng là lời bài hát Sông Lô của Văn Cao

March 21, 2010

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Lão khệnh khạng ngồi xuống cạnh tôi, khề khà cất giọng kẻ cả: “Tây Tiến gắn liền với sông Mã. Sông Mã là dòng sông lớn duy nhất của Việt Nam bắt nguồn từ Việt Nam và kết thúc ở Việt Nam”. Nói rồi lão đứng dậy, nghênh ngang đi ra khỏi phòng, giọng lão ông ổng vọng lại: “Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy...”. Buộc ba lô lên xe, tôi lại lên đường, đi lên Tây Tiến.

July 11, 2009

Huế

Xách chiếc vali xuống xe, tôi lại 1 mình. Lúc sáng nay, cô bé trong quán cà phê dọc bờ sông Hoài tròn mắt ngạc nhiên hỏi tôi rất nhiều:
“Anh đi 1 mình à? Bạn anh đâu? Sao anh lại đi 1 mình? Sao anh không rủ bạn anh đi...”

Hội An

Kìa trống kia đã nổi
Cờ đỏ đà phất xong

Bỏ lại tất cả đồ đạc ở lại Đà Nẵng, chỉ cầm theo quyển bản đồ, tôi nhảy lên xe, men theo bờ biển xuống phía nam. Trời nắng chang chang nhưng gió biển thổi mát rượi. Định bụng trên đường sẽ ghé chùa Non Nước rồi mới vào Hội An. Gió lồng lộng, giật mình nhìn lên đã thấy Hội An ngay trước mặt.

Perhaps love

Có lần anh hứa với cô: “Hôm nào anh sẽ tặng em bộ phim Perhaps Love, anh thấy giống chúng ta lắm”. Cô lẩm nhẩm khẽ hát: “Perhaps love is like the ocean, full of conflict, full of pain...”.

Ngày ấy, khi tình cảm hai người mới chớm nở, hay là có thể mới chớm nở, perhaps love, cô tạm biệt anh đi xa 1 chuyến. Dù cô không nói gì nhưng qua bài hát cô nghe, anh biết cô nhớ anh nhiều.

Ở cửa khẩu Mộc Bài

- “Xe này có qua cửa khẩu Mộc Bài không anh?”
- “Có, lên xe đi”

Chúng tôi lên xe, chẳng nhìn xung quanh, lăn luôn ra ngủ, mệt quá. Không biết bao lâu, xe phanh khựng lại, nhìn ra ngoài trời tối om, mọi người lục đục xuống xe.

June 27, 2009

Nhật kí Hà Giang

(Cảm ơn Jeleni đã giúp đỡ tôi làm bài này)



13h35: Dừng nghỉ trưa tại bản Nà Thày, qua Nà Phày khoảng 6km. Chúng tôi hạ mì tôm, cồn khô ra nấu. Đây là ranh giới Tuyên Quang - Hà Giang. Tiếp theo chúng tôi sẽ đi vào đường nhỏ tắt sang Bắc Mê, Hà Giang. Đoạn từ Na Hang tới chỗ này đường rộng khoảng 4km, trên bản đồ con đường chúng tôi sẽ đi tiếp chỉ là 1 đường kẻ nhỏ, bằng 1/3, 1/4 đoạn vừa qua.

14h00: Lên đường, chúng tôi bắt đầu vào con đường mòn độc đạo, chỉ vừa 1 bánh xe. Tấm biển “Welcome to Bac Me” nằm lấp ló sau bụi cây rừng. Xe vẫn tiếp tục đi trên con đường mòn quanh núi. Thỉnh thoảng đi qua một bản nhỏ, người ta đổ ra đường đứng vẫy tay chào rối rít. Khu này là dân tộc Dao.




16h20: Chúng tôi băng qua sông Gâm vào Bắc Mê cũ. Chúng tôi mua thịt hộp, bánh kẹo, đổ xăng chuẩn bị đi băng rừng đến Du Già, tối ngủ bản.

18h00: Ngã 3 Nà Sài, rẽ vào Du Già. Trời tối xuống rất nhanh, chỉ thoáng chốc đã không còn nhìn được gì 2 bên đường, xung quanh tối om, đen kịt, chỉ thấy ánh đèn xe chúng tôi rọi phía trước và con xe cứ gập ghềnh leo qua những tảng đá tiến lên. 2 tên dừng xe trước 1 bản trên đỉnh núi, giở bản đồ. Ngay lập tức gần như cả bản xúm quanh chúng tôi, một loạt cái đầu cũng chúm cả vào quyển bản đồ mà bàn tán râm ran.

23h00: Yên Minh.

Thứ 7, 22-04-2006

Đường 132, Hà Giang - Đồng Văn. Đường đi toàn leo lên núi rất dốc, thỉnh thoảng leo qua 1 rặng núi lại thấy xuất hiện một dải ruộng ngô của người Dao, họ cuốn khăn đỏ làm rẫy cheo leo trên vách núi. Ngô đá mọc chen đá tai mèo. Sủng Là.



09h00: 3km nữa sẽ đến nhà Vua Mèo, hôm nay có phiên chợ.

09h45: Chúng tôi đến nhà Vua Mèo, nhà Vua Mèo nằm dưới thung lũng giữa 2 quả núi. Đi từ xa trên đường đã nhìn thấy mái nhà cong cong, bề thế nổi bật lên giữa xung quanh.




Xuống chợ, cả chợ rực rỡ các loại sắc màu, xanh đỏ da cam đen cùng các màu óng ánh ánh lên từ những chiếc khăn đội đầu, những chiếc thắt lưng khảm kim tuyến ngang lưng các cô gái Mèo. Đàn ông con trai thì lại chỉ một màu đen tuyền, từ đầu đến chân, cả chiếc mũ nồi đội đầu cũng đen. Chiếm một phần lớn chợ là khu bán váy áo. Rất ít người biết tiếng Kinh. Phiên chợ này người ta gọi là chợ Sình, chắc là gọi theo tên vua Mèo Vương Chí Sình.





11h10: Rời chợ lên Lũng Cú, Lũng Cú cao 1700m. Trên những con đường mòn chênh vênh vách núi từng tốp người Mèo đi chợ về, váy áo ô xòe rực rỡ màu sắc. Đường đi tiếp tục lên cao.

12h15: Chúng tôi ngồi bên bàn đá xanh dưới gốc cây đào to, uống trà Shan Tuyết trong trạm biên phòng Lũng Cú.

12h41: Tôi đặt chân lên cột cờ Lũng Cú, địa đầu Tổ Quốc Việt Nam.



Thoạt tiên chưa có cột cờ này, Việt Nam treo lên 1 lá cờ ban đầu khoảng 14m2, bên Trung Quốc cắm 1 lá cờ to hơn, bên ta liền làm 1 lá cờ to hơn nữa, Trung lại cắm cờ to hơn nữa,... cứ thế và đến năm 2001, Việt Nam xây cột cờ, treo lên lá cờ như bây giờ, 54m2.

15h15: Rời trạm biên phòng Lũng Cú, xuôi xuống Đồng Văn. Trung tâm phố huyện Đồng Văn khá sầm uất. Hai bên đường toàn nhà gạch, trong phố cổ vẫn còn nhiều nhà gỗ tường đất sát vách núi. Chợ huyện buổi chiều lưa thưa.



17h00: Đồng Văn - Mèo Vạc, Đèo Ma Pi Leng. Đèo Ma Pi Leng vô cùng ấn tượng, đường đi toàn vòng quanh trên các đỉnh núi, máy xe khét lẹt. Dừng chân trên đỉnh đèo, nhìn 4 xung quanh, những dãy núi cao ngất, trập trùng, hiểm trở, tất cả đều dưới chân.



Tấm bia trên đèo Ma Pi Leng:
“Trung ương Đảng khi về Việt Bắc quyết định mở đường Hà Giang, Đồng Văn, Mèo Vạc
Ngày khởi công 10-09-1959
Ngày hoàn thành 10-03-1965
Thành phần mở đường gồm 16 dân tộc ở các tỉnh Cao Bắc Lạng, Hà Tuyên Thái, Nam Định, Hải Dương. Riêng dốc Mã Pì Lèng công nhân đã phải treo mình 11 tháng để mở đường”

Vào đến thị trấn, chúng tôi đi khắp cả thị trấn mới tìm được 1 nhà nghỉ còn giường. Hôm nay mọi người lên đông. Gọi là đông nhưng cũng chỉ khoảng 40 50 người là cũng đủ chật 6 7 cái nhà nghỉ toàn thị trấn này.

20h00: Mèo Vạc - Khâu Vai. Như vậy là chúng tôi lên chợ tình sớm hơn 1 ngày so với dự tính. Lại tiếp tục lên dốc. Lũng Pu 11km, vẫn điện thoại bắt đầu mất sóng. Đi được 10km, rẽ vào một đường núi đá lởm chởm, rất xấu, vài lần đã không làm chủ được tay lái.

21h20: Chúng tôi đặt chân tới chợ tình Khâu Vai, cái đích của cuộc hành trình. Lúc đi bộ trên con đường mòn mò xuống thung lũng tôi đã nghe thấy tiếng nhạc trẻ ầm ầm. Xuống đến chợ, lơ thơ vài hàng bán nước giải khát, thịt nướng, trong ánh đèn mờ mờ. Trung tâm của chợ là sân khấu văn nghệ các dân tộc. Ngay đầu chợ tôi nhìn thấy chiếc xe thông tin lưu động của Bộ Văn Hóa, tôi nhủ thầm: “Hỏng rồi...”.

Chúng tôi ngồi như những đại biểu cấp cao trước sân khấu, chương trình biểu diễn các dân tộc Tày, Lô Lô...

22h05: Chúng tôi rời chợ tình không chút luyến tiếc. Giờ này tối qua chúng tôi vẫn đang leo lên đỉnh núi cuối cùng đi Mẫu Duệ. Trời tối om, bất thình lình chúng tôi thấy xe lướt sát người một bác Mèo đen tuyền say rượu nằm ngủ lăn quay giữa đường đi. Sương xuống nhiều, khá lạnh.

22h55: Mèo Vạc sáng đèn dưới chân núi trước mặt.

Chủ Nhật, ngày 23-04-2006


09h00: Chúng tôi rời Mèo Vạc sau khi lang thang chợ huyện 1 lúc, cả chợ ngập một màu xanh váy áo của các cô gái.

Lạc đường, chúng tôi đi nhầm đường, leo lên lại Ma Pi Leng, tấm bia xa xa trên đỉnh núi trước mặt. Quay trở lại Mèo Vạc. Chúng tôi lại leo lên núi, từ lúc đặt chân vào Hà Giang đến giờ, chúng tôi hầu như chỉ đi lên, rất ít khi đi xuống. Trên dốc, đi 1 đoạn lại gặp vài người Mèo đi chợ về, tay cắp con gà, lưng đeo gùi, đi bộ, váy kim tuyến lấp lánh dưới ánh mặt trời.




Chắc chúng tôi chuẩn bị đi qua 1 phiên chợ nào đó, trên đường gặp từng đoàn người lưng gùi nặng, tay cắp ô, tay gặm mía đi trên đường.

10h55: Chúng tôi đến chợ, đây là chợ Mẫu Duệ. Chợ đã tàn, chỉ còn vài người ngồi bệt uống rượu bên nồi thắng cố, ngựa buộc bên cạnh. Mấy hôm nay khá nắng, qua mấy phiên chợ, tôi thấy món kem đá đầy phẩm màu có vẻ rất được ưa chuộng, có người cầm hẳn 1 túi vừa đi vừa ăn.

11h40: Quản Bạ. Ở đây đang có hội chợ, người dân tộc áo váy mới, đi hội tấp nập. Chúng tôi nghỉ ăn trưa. Chặng tiếp theo là Cổng trời Quản Bạ. Chúng tôi đang đi dọc theo con sông Miêm, sông này bắt nguồn từ biên giới Trung Quốc, đến Hà Giang sẽ hòa vào sông Đà. Đoạn này khá hiền hòa, nước chảy trong vắt dưới khe. Vài người dân bản ngồi ở bãi đã nhô ra lòng sông giặt giũ, trẻ con thì bơi lội, trời nắng gắt.




Sông Miệm tách ra khỏi đường cái, chúng tôi bắt đầu leo lên Cổng Trời, điểm cao nhất vùng này, qua Cổng Trời là đường đi chỉ có xuống dốc.

14h30: Cổng Trời Quản Bạ.




15h15: Chúng tôi nghỉ chân tại cây số 21, dưới chân núi là sông Nậm Điêng, nước rất trong, nhìn rõ cả 2 thằng trẻ con lặn xuống sông bắt cá, sông này cũng đổ về sông Lô.



15h45: Thị xã Hà Giang, thị xã chạy dọc sông Lô, trung tâm là cột mốt “Hà Giang 0km”. Cố gắng về đến Tuyên Quang khi trời còn sáng.

Chúng tôi tiếp tục xuôi theo sông Lô. Trên đường có ngang qua suối nước khoáng Việt Lâm, 30' dành cho bơi lội.

18h00: Tiếp tục con đường cát bụi về Tuyên Quang, suối nước khoáng nóng rẫy.

Vĩnh Ngọc, tạm thời chia tay sông Lô, đường đi hai bên toàn núi đá. Trời chạng vạng tối, trên sườn núi không biết là sương hay khói bếp.

19h46: Xe thủng lốp giữa đường, cách Tuyên Quang 53km. Chúng tôi dắt bộ xe quay lại, rất may có 1 hàng sửa xe duy nhất của xã còn sáng đèn.

21h05, tiếp tục lên đường.

22h10: Thị xã Tuyên Quang. Chúng tôi gia cố lại xe, nghỉ ăn bát cháo rồi lại lên đường.

22h55: Chặng cuối cùng Tuyên Quang - Hà Nội, 165km.

Thứ Hai, 24-04-2006


02h23: Cầu Thăng Long, Hà Nội, kết thúc cuộc hành trình 84h, 1150km.


June 01, 2009

Bản tango Athens


Đó là El Choclo, khu phố cổ Plaka, Athens.

Và tối nay, tôi đã được nghe To Tango tis Nefeli, bản tango Hi Lạp tại chính Hi Lạp

Rừng rừng hoa với chim ca vui tưng bừng...



Nhật kí Tây Bắc (2)
Ngày 24, tháng 2, 2007


Một ngày đầy ắp sự kiện!

Kế hoạch đặt ra hôm nay sẽ phải đến được Yên Châu, cách Sơn La 60km. 8 giờ, dự tính trưa nay sẽ phải ăn trên rừng, chúng tôi chuẩn bị đồ ăn nhưng tìm cả thị trấn không đâu bán bánh mì, đành phải mua lương khô. Đổ xăng xong nhằm thằng đèo Khau Phạ.

Rừng cây xanh lá muôn đóa hoa mai...


Nhật kí Tây Bắc
Kỉ niệm 1 năm chuyến đi

- Mùng 6 Tết lên Bắc Giang bê tráp ăn hỏi cho tao nhé?
- Mùng 6 Tết à, hôm đó tao định đi Tây Bắc... Không sao, tao sẽ bê tráp ăn hỏi cho mày.

Nhật kí đường Trường Sơn xuyên Việt

Ngày 25, tháng 4


Tôi đẩy cửa phòng khách sạn, đúng đây là phòng của các ông bạn tôi rồi, đồ đạc vất tứ tung khắp phòng, nào mũ bảo hiểm, nào can xăng, nồi niêu, nào đồ nghề sửa xe máy, nào dây thừng, túi ngủ ngổn ngang khắp nơi trên nền nhà, một không khí đi xa tràn ngập.